Thứ Năm, ngày 20 tháng 12 năm 2012

CHÍNH THỨC CỬ HÀNH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL.2556-1012 TẠI CHÙA VẠN PHÚC, BẮC NINH



CHÍNH THỨC CỬ HÀNH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL.2556-1012 TẠI CHÙA VẠN PHÚC, BẮC NINH
May 5, 2012 9:06 PMPublicPageviews 38 0
CHƯƠNG TRÌNH CHÍNH THỨC

CỬ HÀNH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL. 2556 – 2012

TẠI CHÙA VẠN PHÚC ĐỒNG SÀI, QUẾ VÕ, BẮC NINH
 09h00’ ngày 14 tháng Tư năm Nhâm Thìn (Thứ Sáu, 4.05.2012):
I. PHẦN NGHI THỨC HNH CHÍNH:
- Tín đồ Phật tử vân tập Lễ đài
- Ba hồi chuơng trống bát nhã cung thỉnh chư tôn đức quang lâm Lễ đài.
- Niệm Phật cầu gia bị
- Thông qua chương trình
- Tuyên bố lý do - Giới thiệu thành phần tham dự.
- Phát biểu Khai mạc của Trưởng thôn Đồng Sài.

II. PHẦN NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG:
09h30’: Dâng hoa cúng dường (tùy nghi sắp xếp)
- Niệm hương bạch Phật.
- Tụng kinh Khánh Đản - Hồi hướng.
- Lễ Tắm Phật
- Bài giảng “ Ý nghĩa Đại Lễ Phật Đản”
(TK. Thích Chỉnh Tuệ)
20h00’: Văn nghệ cúng dường Đại Lễ Phật Đản PL.2556
Chiếu phim Lịch sử Đức Phật “ÁNH ĐẠO VÀNG”
- Cảm tạ của Ban tổ chức
22g00’: Bế mạc

BAN TỔ CHỨC

































PHỤ LỤC:


NGHI THỨC

LỄ PHẬT ĐẢN

1. NIỆM HƯƠNG BẠCH PHẬT

(Theo nghi thức lễ Khánh đãn)

2. XƯỚNG LỄ TAM BẢO

(Theo nghi thức lễ Giao thừa)

3. CÚNG HƯƠNG Tụng Đại bi ...

4. PHÁP NGỮ

Cung duy, Trung thiên điều ngự, vô thượng y vương, khai vạn tự ư hung tiền, kim thân tú dị; nhiếp thiên luân ư túc hạ, ngọc tướng trang nghiêm. Thất thất niên chi giáo pháp tuyên dương, vô lượng vô biên vô số kiếp; vạn vạn thế chúng sanh chi hóa đạo, đại hùng đại lực đại từ bi. Thiệt duy công đức vô biên, tán thán mạc cập giả dả.
Hoặc bài: Tán lễ Thích tôn, vô thượng y vương, tam kỳ quả mãn tu nhơn, Đâu suất giáng trần, trường từ bửu vị kim luân, tọa bồ đề tòa, đại phá ma quân, nhất đổ minh tinh đạo thành, giáng pháp lâm, tam thừa chúng đẳng quy tâm, vô sanh dĩ chứng. Hiện tiền chúng đẳng quy tâm, vô sanh tốc chứng.

5. ĐẢNH LỄ

Nhất tâm đảnh lễ A tỳ ngục tốt, sơ phát thiện tâm,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Tam kỳ quả mãn, bách kiếp nhơn viên,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Nhất sanh bổ xứ, hiện trú Đâu suất,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Ta bà hóa độ, ứng hiện sanh thân,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Đâu suất giáng trần, Ma da ứng mộng,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Hoàng cung thác chất, hiện trú thai tạng,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Vô ưu thọ hạ, thị hiện đản sanh, (15.4)
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Hiện thọ dục lạc, yếm ác vô thường,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Du quán tứ môn, yếm lão bệnh tử ,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Bán dạ du thành, xuất gia học đạo,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Thanh sơn đoạn phát, phỏng đạo tầm sư,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Tuyết lãnh tu hành, lục niên khổ hạnh,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Bồ đề thọ hạ, hàng phục ma quân
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Công viên quả mãn, đổ tinh thành đạo, (8.12)
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Tứ thập cửu niên thuyết pháp độ sanh,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Tam thừa giáo bị, hóa độ dỉ tất,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Ta la song thọ thị hiện niết bàn, (15.2)
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Lưu bố xá lợi phước lợi nhơn thiên,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Ta bà giáo chủ đại từ đại bi phụ,
Chúng hòa: Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.

BÀI TỤNG KHÁNH ĐẢN

Đệ tử hôm nay,
Gặp ngày Khánh đản
Một dạ vui mừng,
Cúi đầu đảnh lễ
Thập phương tam thế
Điều ngự Như lai,
Cùng Thánh Hiền Tăng.
Chúng con cùng pháp giới chúng sanh,
Bởi thiếu nhơn lành,
Thảy đều sa đọa;
Tham sân chấp ngã,
Quên hẳn đường về,
Tình ái si mê,
Tù trong lục đạo,
Trăm dây phiền não,
Nghiệp báo không cùng.
Nay nhờ Phật tổ năng nhân,
Nhũ lòng lân mẫn,
Không nỡ sinh linh thiếu phước,
Nặng kiếp luân hồi.
Đêm dày tăm tối
Đuốc tuệ rạng soi,
Nguyện cứu muôn loài,
Pháp dùng phương tiện,
Ta bà thị hiện,
Thích chủng thọ sanh,
Thánh Ma da mộng ứng điềm lành,
Vua Tịnh Phạn phước sanh con thảo,
Ba mươi hai tướng tốt,
Vừa mười chín tuổi xuân,
Lòng từ ái cực thuần,
Chí xuất trần quá mạnh,
Ngai vàng quyết tránh,
Tìm lối xuất gia,
Sáu năm khổ hạnh rừng già,
Bảy thất nghiêm tinh thiền tọa,
Chứng thành đạo quả,
Hàng phục ma binh,
Ba cõi đều dậy tiếng hoan nghênh,
Muôn vật thảy nhờ ơn tế độ,
Chúng con nguyện:
Dứt bỏ dục tình ngoan cố,
Học đòi đức tánh quang minh,
Cúi xin Phật tổ giám thành,
Từ bi gia hộ,
Chúng con cùng pháp giới chúng sanh,
Chóng thành đạo quả.
Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật (3 lần)
Nam mô Văn thù sư lợi Bồ tát (3 lần)
Nam mô Đại hạnh Phổ hiền Bồ tát (3 lần)
Nam mô Đại bi Quán thế âm Bồ tát (3 lần)
Nam mô Đạo tràng hội thượng Phật, Bồ tát (3 lần)

TIẾP ĐẾN TỰ QUY VÀ HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

Nghi Thức Tắm Bụt

 Lễ này nên để thiếu nhi tổ chức và trang trí với sự giúp sức của giới phụ huynh. Một cái mái hình cung được đan bằng tre hay đóng bằng những thanh gỗ nhẹ để làm nơi tắm Bụt. Đức Bụt sơ sinh đứng dưới mái vòm ấy, trên một hòn đảo nhỏ đặt giữa một cái hồ con. Bụt sơ sinh có thể là một búp bê trai bằng nhựa, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất. Mái vòm và các cây cột chống được trang trí bằng lá và bằng hoa. Thiếu nhi đi hái lá hoa và cùng nhau trang trí mọi thứ với sự góp ý của người lớn. Hồ đựng nước thơm. Trên bờ hồ có gáo con để múc nước thơm tắm Bụt. Dưới đài có đủ chỗ để đặt hoa và nến. Hoa và nến này do thiếu nhi và người lớn thay phiên nhau dâng lên trước khi được tắm Bụt.
1. (Thiền Hành) (30 phút, sau khi được hướng dẫn)
2. (Thiền Tọa) (12 phút, sau khi được hướng dẫn)
3. (Dâng Hương)

Đại chúng đứng chắp tay trước bàn thờ. Vị chủ lễ nâng hương lên và xướng kệ Dâng Hương sau ba tiếng chuông bắt đầu, trong khi mọi người quán tưởng theo lời kệ:
Xin cho khói trầm thơm
Kết thành mây năm sắc
Dâng lên khắp mười phương
Cúng dường vô lượng Bụt
Vô lượng chư Bồ Tát
Cùng các thánh hiền tăng
Nơi pháp giới dung thông
Kết đài sen rực rỡ
Nguyện làm kẻ đồng hành
Trên con đường giác ngộ
Xin mọi loài chúng sanh
Từ bỏ cõi lãng quên
Theo đường giới định tuệ
Quay về trong tỉnh thức.
Chúng con kính dâng hương lên Bụt và chư vị Bồ Tát. (C)

4. (Tán Dương)

Hương đã cắm vào bình, vị chủ lễ xướng, đại chúng chắp tay quán tưởng theo:
Xinh tốt như hoa sen
Rạng ngời như Bắc Đẩu
Xin quay về nương náu
Bậc thầy của nhân, thiên.
Sen quý nở đài giác ngộ
Hào quang chiếu rạng mười phương
Trí tuệ vượt tầm pháp giới
Từ bi thấm nhuận non sông
Vừa thấy dung nhan Điều ngự
Trăm ngàn phiền não sạch không
Hướng về tán dương công đức
Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng.
Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni. (C)

5. (Lạy Bụt)

Vị chủ lễ xướng các danh hiệu sau đây, và đại chúng lạy xuống một lạy theo tiếng chuông gia trì sau mỗi danh hiệu:
Nhất tâm kính lễ Bụt, Pháp và Tăng thường trụ trong mười phương (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Thượng Thủ Ma Ha Ca Diếp (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Trí Trưởng Lão Xá Lợi Phất (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Hiếu Ma Ha Mục Kiền Liên (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Luật Sư Ưu Ba Ly (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Khải Giáo A Nan Đà (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Ni Trưởng Kiều Đàm Di (C)
Nhất tâm kính lễ liệt vị Tổ Sư qua các thời đại từ Thiên Trúc đến Việt Nam. (CC)

6. (Khai Thị)

Hôm nay đại chúng tập họp để mừng ngày Khánh đản và làm lễ tắm Bụt sơ sinh. Đại chúng lắng lòng nghe đây: Cách đây trên 2600 năm, tại thành Ca Tỳ La Vệ, giữa loài người chúng ta và trên trái đất xinh đẹp này, một đức Bụt đã ra đời. Đó là đức Thích Ca Mâu Ni. Ngài là một con người như chúng ta, nhưng Ngài đã đưa sự tỉnh thức của Ngài lên đến mức độ cao nhất. Ngài đã trở thành một bậc tỉnh thức toàn vẹn. Ngài là một con người như chúng ta, nhưng Ngài đã phát huy khả năng hiểu biết và thương yêu của Ngài tới mức tột cùng. Ngài là đóa hoa đẹp nhất và quý nhất trong vườn hoa nhân loại. Ngài là một đóa hoa Ưu Bát Đa La, mỗi ba ngàn năm mới nở một lần.

7. (Bài Hát Quay Về Nương Tựa)

Con về nương tựa Bụt
Người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Namo Buddhaya.
Con về nương tựa Pháp
Con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Namo Dharmaya.
Con về nương tựa Tăng
Đoàn thể của những ai nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.
Namo Sanghaya.

Buddham Saranam Gacchami.
Dharmam Saranam Gacchami.
Sangham Saranam Gacchami.

8. (Pháp Ngữ)

Xưng tán đức Thế Tôn
Bậc vô thượng năng nhân
Từng trải qua vô lượng kiếp tu nhân
Rồi từ cung Đâu Xuất giáng thần
Giã từ ngôi vị quốc vương
Ngồi gốc Bồ Đề đại phá Ma quân
Một sáng sao mai vừa mọc
Đạo lớn viên thành
Rồi đại chuyển Pháp luân. (C)
Muôn loài cùng quy hướng nhất tâm
Đạo vô sinh sẽ chứng
Muôn loài cùng quy hướng nhất tâm
Đạo vô sinh nguyện chứng. (CC)

9. (Chúc Tán)

Bậc Đại Giác viên mãn xuất hiện nơi cõi Ta Bà
Tấm lòng ôm trọn cả thái hư
Trí giác soi cùng đại thiên thế giới
Xin rủ lòng từ, xót thương minh chứng: (C)
Thế Tôn dung mạo như vầng nguyệt
Lại như mặt nhật phóng quang minh
Hào quang trí tuệ chiếu muôn phương
Hỷ xả từ bi đều thấm nhuận. (C)
Thế Tôn đức tướng vô tận không thể tán dương
Chúng con ở đạo tràng(Mai Thôn)
Nhân ngày đản Bụt
Tập họp bốn chúng
Đi lên bảo điện
Thiền tọa công phu
Phúng tụng kinh văn
Xưng dương hạnh đức của Bụt
Trì niệm hồng danh
Xin nguyện chúc lên: (C)

Nguyện chúc đạo Bụt sáng thêm
Pháp môn càng ngày càng tỏ rạng
Gió hòa mưa thuận
Đất nước bình an
Khắp nơi thành thị nông thôn
Mọi giới biết noi theo đường tu tập
Thiên nhiên được bảo vệ an lành
Xã hội hưởng tự do bình đẳng.

Lại nguyện:
Xin thổi ngọn gió từ bi
thanh lương vào thế gian nóng bức
Đem mặt trời trí tuệ rạng rỡ về ngự giữa không gian âm u
Khắp nơi đạo giải thoát được tuyên dương
Mưa pháp thấm nhuần chúng sanh đều lợi lạc
Hiện tiền đại chúng
Tu tập tinh chuyên
Biết thương yêu nhau như ruột thịt
Chuyển hóa nội tâm
Trang nghiêm tịnh độ
Nguyện noi gương Phổ Hiền và Quán Tự Tại
Cùng các bậc Bồ Tát Ma Ha Tát
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. (CC)

10. (Kệ Khai Kinh)

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (ba lần) (C)
Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi. (C)
Kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa (C)
Bồ Tát Quán Tự Tại
Khi quán chiếu thâm sâu
Bát Nhã Ba La Mật
Tức diệu pháp Trí Độ
Bỗng soi thấy năm uẩn
Đều không có tự tánh.
Thực chứng điều ấy xong
Ngài vượt thoát tất cả
Mọi khổ đau ách nạn. (C)
"Nghe đây, Xá Lợi Tử :
Sắc chẳng khác gì không
Không chẳng khác gì sắc
Sắc chính thực là không
Không chính thực là sắc
Còn lại bốn uẩn kia
Cũng đều như vậy cả. (C)
Xá Lợi Tử, nghe đây :
Thể mọi pháp đều không
Không sanh cũng không diệt
Không nhơ cũng không sạch
Không thêm cũng không bớt.
Cho nên trong tánh không
Không có sắc, thọ, tưởng
Cũng không có hành thức
Không có nhãn, nhĩ, tỷ
Thiệt, thân, ý - sáu căn
Không có sắc, thanh, hương
Vị, xúc, pháp - sáu trần
Không có mười tám giới
Từ nhãn đến ý thức
Không hề có vô minh
Không có hết vô minh
Cho đến không lão tử
Cũng không hết lão tử
Không khổ, tập, diệt, đạo
Không trí cũng không đắc. (C)
Vì không có sở đắc
Nên khi vị Bồ Tát
Nương diệu pháp Trí Độ
Bát Nhã Ba La Mật
Thì tâm không chướng ngại
Vì tâm không chướng ngại
Nên không có sợ hãi
Xa lìa mọi mộng tưởng
Xa lìa mọi điên đảo
Đạt Niết Bàn tuyệt đối. (C)
Chư Bụt trong ba đời
Y diệu pháp Trí Độ
Bát Nhã Ba La Mật
Nên đắc vô thượng giác.
Vậy nên phải biết rằng
Bát Nhã Ba La Mật
Là linh chú đại thần
Là linh chú đại minh
Là linh chú vô thượng
Là linh chú tuyệt đỉnh
Là chân lý bất vọng
Có năng lực tiêu trừ
Tất cả mọi khổ nạn
Cho nên tôi muốn thuyết
Câu thần chú trí độ
Bát Nhã Ba La Mật".
Nói xong đức Bồ Tát
Liền đọc thần chú rằng:
Gate
Gate
Paragate
Parasamgate
Bodhi
Svaha.1 (ba lần) (CC).đọc là xóa ha.

11. (Kệ Tắm Bụt)

Hôm nay được tắm cho Như Lai
Trí tuệ quang minh công đức lớn
Chúng sinh ba cõi đang chìm đắm
Được thấy trần gian hiện pháp thân. (C)
Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni.
Mặt đẹp như vầng nguyệt
Ba cõi đều tôn xưng
Hàng phục tất cả
Ma, Thiên, Nhân đều nép phục.
Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni. (C)

12. (Niệm Bụt và Tắm Bụt)

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni.
(Niệm thong thả và liên tục, trong khi từng người tiến lên dâng nến và dâng hoa trước Bụt sơ sinh. Vị Duy Na là người đầu tiên dâng nến và dâng hoa, rồi múc nước thơm trong hồ tưới lên tượng Bụt. Sau đó đến thiếu nhi. Thiếu nhi xong rồi mới tới người lớn. Bài hát Quay Về Nương Tựa (mục 7) và bài kệ Tắm Bụt (mục 11) có thể được thỉnh thoảng hát hay tụng lên thay cho tiếng niệm Bụt)

13. (Bài Tụng Hạnh Phúc)

Chúng con được ngồi đây
Trong phút giây hiện tại
Bao bọc bởi tăng thân
Thấy mình thật may mắn:
Sinh ra được làm người
Con sớm gặp chánh pháp
Hạt Bồ Đề tưới tẩm
Lại có duyên được sống
Hòa hợp trong tăng thân. (C)
Năng lượng của tăng đoàn
Giới luật và uy nghi
Đang bảo hộ cho con
Không để gây lầm lỗi
Không bị nghiệp xấu đẩy
Đi về nẻo tối tăm
Lại được cùng bạn hiền
Đi trên đường chân thiện
Có ánh sáng chiếu soi
Của Bụt và Bồ Tát. (C)
Tuy có mặt trong con
Những hạt giống khổ đau
Phiền não và tập khí
Nhưng chánh niệm hiện tiền
Vẫn thường luôn biểu hiện
Giúp cho con tiếp xúc
Với những gì mầu nhiệm
Có mặt trong tự thân
Và có mặt quanh con. (C)
Sáu căn còn đầy đủ
Mắt thấy được trời xanh
Tai nghe tiếng chim hót
Mũi ngửi thấy hương trầm
Lưỡi nếm được pháp vị
Thế ngồi con vững chãi
Ý hợp nhất với thân
Nếu không có Thế Tôn
Nếu không có Diệu Pháp
Nếu không có Tăng Đoàn
Làm sao con may mắn
Được pháp lạc hôm nay? (C)
Công phu tu tập này
Con cũng xin hành trì
Cho gia đình, dòng họ
Cho thế hệ tương lai
Và cả cho xã hội.
Niềm an lạc của con
Là vốn liếng tu tập
Con xin nguyền vun bón
Tưới tẩm và nuôi dưỡng
Bằng chánh niệm hàng ngày. (C)
Trong xã hội của con
Bao nhiêu người đau khổ
Chìm đắm trong năm dục
Ganh ghét và hận thù.
Thấy được những cảnh ấy
Con quyết tâm hành trì
Điều phục những tâm hành
Tham đắm và giận ghét
Tập khả năng lắng nghe
Và sử dụng ái ngữ
Để thiết lập truyền thông
Tạo nên sự hiểu biết,
Chấp nhận và thương yêu. (C)
Như đức Bồ Tát kia
Con nguyện xin tập nhìn
Mọi người chung quanh con
Bằng con mắt từ bi
Bằng tâm tình hiểu biết
Con xin tập lắng nghe
Bằng lỗ tai xót thương
Bằng tấm lòng lân mẫn
Nhìn và nghe như thế
Là hạnh của Bồ Tát
Có thể làm vơi nhẹ
Khổ đau trong lòng người
Đem lại niềm an lạc
Về cho cả hai phía. (C)
Chúng con ý thức rằng
Chính phiền não si mê
Làm cho thế giới này
Trở thành nơi hỏa ngục.
Nếu tu tập chuyển hóa
Chế tác được hiểu biết
Cảm thông và thương yêu
Chúng con sẽ tạo được
Tịnh Độ ngay nơi này. (C)
Dù cuộc đời vô thường
Dù sinh lão bệnh tử
Đã có đường đi rồi
Con không còn lo sợ. (C)
Hạnh phúc thay được sống
Trong tăng đoàn Thế Tôn
Được hành trì giới định
Sống vững chãi thảnh thơi
Trong từng giây từng phút
Của cuộc sống hàng ngày,
Và trực tiếp tham gia
Vào sự nghiệp độ sinh
Của Bụt và Bồ Tát. (C)
Giờ phút này quý báu
Niềm biết ơn tràn dâng
Xin lạy đức Thế Tôn
Chứng minh và nhiếp thọ. (CC)

14. (Quay Về Nương Tựa)

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)

Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.
Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.
Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)

Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người,thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.
Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người,nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người,xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)

15. (Hồi Hướng)

Tắm Bụt tâm thanh tịnh
Tạo công đức vô biên
Đệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sinh mọi miền. (C)
Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên. (CCC)



Bị chú: Những danh hiệu trên, khi gặp ngày vía nào thì lạy danh hiệu ấy ba lạy.
 
Đức Phật ra đời – Thông điệp của sự hạnh phúc
Thích Giác Thiện

Ngài sinh vào cung vua Tịnh Phạn, năm 563 trước Tây Lịch. Cuộc đời Ngài từ lúc sinh cho tới lúc nhập diệt là một bức tranh hết sức đẹp đẽ và đầy ý nghĩa. Ngài đã đi vào quá khứ, nhưng đức tính và trí tuệ của Ngài vẫn còn mãi với con người và cuộc đời. Hôm nay nhân ngày Phật đản chúng ta cần ôn lại bài học về cuộc đời Ngài để hiểu được ý nghĩa sự ra đời của Đức Từ Phụ, nguyện noi gương Ngài luôn tinh tấn trên bước đường tự lợi tự tha.

Thời gian cứ trôi dần đi theo quy luật của tạo hóa, thế là một mùa Khánh Đản nữa lại về trên dải đất hình chữ S thân thương. Đã trải qua 2636 năm kể từ cái ngày ấy, cái ngày mà cả thế giới đều rung động để chào đón sự xuất hiện của đấng Đại Giác Ngộ.

Tuy Ngài đã nhập diệt nhưng chánh pháp vẫn được lưu truyền mãi mãi trong thế gian như là một con đường dẫn đến cho chúng ta thoát khỏi sự khổ đau để tìm về bờ giải thoát.

Đức Phật ra đời, mang một thông điệp của sự giải thoát và an lạc trong cuộc sống đã xuất hiện, những lời dạy của Ngài phải chăng là lời giải đáp cho sự tìm kiếm và trao chìa khóa để con người mở tung cánh cửa cuộc đời nhằm thực hiện ước mơ của mình, tạo dựng một thế giới an bình cho nội tâm và ngoại cảnh.
Đức Phật đã từng tuyên bố: “Không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn, trong dòng máu cùng đỏ”. Lời tuyên bố ấy của Ngài thật là cao thượng, xuất phát từ một trái tim nhân hậu cao cả luôn vì nhân loại chìm đắm trong khổ đau, như là một sự khẳng định minh triết, một bản tâm ca của đời sống nhân loại. Vì con người không nhận chân được lòng tự quyết của chính mình và đã phủ nhận tính linh cao thượng của người khác; dẫu biết rằng, ai cũng có Phật tính và ai cũng đều có thể trở nên cao thượng. Cao thượng hay thấp hèn, tất cả đều do quyết định của chính mỗi người chúng ta.

Chính vì lẽ ấy, sự ra đời của Đức Phật đáp ứng được ước mơ của con người trong xã hội thời đại ấy và cho đến hôm nay, mãi mãi về sau, Ngài đã mang đến cho loài người chúng ta một thông điệp về sự an bình trong cuộc sống là trong ta và trong mỗi người đều có sức mạnh chuyển hóa. Chuyển hóa từ chính trong sự nhận thức tầm thường của dục vọng, từ sự ham muốn thúc đẩy của dục ái, và từ sự ham muốn dứt khoát xả bỏ tư duy giữa cái ta và cái của ta, thì lúc ấy con người đã nắm lấy được thông điệp của Ngài và đi đến bến bờ hạnh phúc.

Đức Phật đã dạy cho chúng ta biết rằng, sự nhận thức và hành động có chủ đích của chúng ta trong hiện tại cũng như trong quá khứ như thế nào thì cánh cửa hạnh phúc hay đau khổ sẽ đón nhận chúng ta như thế đó. Chẳng một ai khác có thể cho chúng ta và nhận lãnh cho chúng ta điều này, đừng bao giờ hão huyền, vọng tưởng và lầm lẫn. Xác định vững chắc như thế, thì chúng ta đã thấy được một thế giới mà trong đó tâm tưởng và hình hài của chúng ta được xây dựng một cách hoàn hảo hơn.

Bản “An bình ca” được thâu tóm như một lời minh triết của Đức Phật trao đến loài người, đã làm bùng nổ, tan vỡ một hệ tư tưởng ràng buộc trong xã hội đã ăn sâu vào trong tâm trí của con người, và đã đưa chính họ vào ngõ cụt, không cửa thoát trong vòng tròn ưu phiền của đời sống và luân hồi sinh tử. Sự giải thoát ra khỏi hệ lụy của một hệ tư tưởng thần thánh thời ấy đã mang đến nhiều hạnh phúc cho nhân loại, bất kể đó là nam hay nữ, sang hay hèn và bất kể người đó thuộc sắc tộc gì hoặc địa vị nào trong xã hội.

Nếu chúng ta hiểu biết về sự bình đẳng, và mang chúng sống trong thế giới tương quan tương duyên này thì một điều chắc chắn mà chúng ta có được, đó là không có sự đau khổ dằn vặt trong lòng mỗi người, mâu thuẫn giữa con người và con người với nhau.

Nhận thức được sự cao quý từ trong tâm mỗi con người, sự bình đẳng đã có của mỗi người, quyền được sống ấm no, quyền được tái tạo gia đình và xã hội, quyền được cất liên tiếng nói chính đáng tận đáy lòng mình thì chúng ta sẽ có cơ hội thấy được sự tham sống và mưu cầu hạnh phúc của kẻ khác, chiến tranh sẽ chấm dứt, khát vọng làm não hại con người sẽ được loại trừ, và tình yêu thương đồng loại sẽ được tăng trưởng sẽ làm hun đúc thêm lòng từ bi sẵn có trong lòng mỗi người. Tình yêu thương đồng loại luôn là một thuộc tính luôn có sẵn trong trái tim của con người, nó đồng hành với sự căm thù, và vô số thuộc tính khác, tuy nhiên con người không dám mạnh dạn loại bỏ những thuộc tính tiêu cực và phát triển sự yêu thương đó.

Ngược lại, con người thường gây tai họa cho đồng loại, muốn cường bá và muốn hơn người để khẳng định cái tôi, một cái tôi ảo ảnh mà cứ lầm tưởng đó là sự thật, và đó là trên hết.

Nhưng thật sự, cái tôi của con người vin vào ấy chính là tập hợp của sự vọng tưởng điên đảo tạo thành, của kết tinh sự tham lam, sân hận, tập khí của ngu si, kiêu hãnh dựng nên để rồi chúng ta lầm lẫn cứ mà bám víu vào chúng làm đời sống thật của mình để cuối cùng làm đau khổ cho nhau, cho đồng loại cộng tồn ở trong xã hội này.

Vì không nhận thấy được lòng yêu thương vô bờ bến có sẵn bên trong tâm của mỗi chúng ta, do đó chúng ta cứ sử dụng mặt tiêu cực của tâm để gây chiến và phá hủy, trong đó có môi trường tự nhiên, sự sinh tồn phát triển, sự an sinh xã hội, sự nghèo đói lan tràn, đầy rẫy những bệnh tật vô phương cứu chữa là hệ quả kéo theo bắt nguồn từ việc sử dụng mặt trái tiêu cực của mỗi con người. Hệ quả của những việc đó đã đưa thế giới chúng ta đang sống đến ngõ cụt của sự bất an.
Cho đến khi nào con người biết vận dụng triệt để sự bình đẳng và lòng yêu thương trong cái nhìn sâu sắc, có tư duy trong hành động dưới sự giám sát của tâm thức an tĩnh trong sự tương quan của đồng loại không thể tách rời hay loại trừ, thì lúc ấy ước mơ của con người được sống trong một thế giới thịnh vượng, hòa bình mới khả dĩ được kiến tạo. Còn ngược lại, chúng ta chỉ tạo thêm nhiều đau khổ với nhau và sự rêu rao hòa bình chỉ nằm trong sách vở, tâm tưởng và nằm trên bàn tròn của những kẻ tham vọng mà không bao giờ được thực hiện.

Kỷ niệm ngày đản sinh của Đức Phật, chúng ta hãy cùng nhau đọc lại Thông điệp An bình của Đức Phật, và bằng hành động, chúng ta hãy đưa thông điệp này vào trong mỗi con người, gia đình, quốc gia, và hãy làm cho thông điệp ấy được sáng tỏ như là cương lĩnh sống và hành động của tất cả mọi người. Như thế, chúng ta sẽ thấy rằng trí tuệ siêu việt của Đức Phật xuyên suốt thời gian và đã đi cùng ước mơ muôn thuở của loài người.

Nơi đây, thế giới sẽ cất tiếng hoan ca lời hạnh phúc, yêu thương mà Đức Phật, một bậc đại giác ngộ đã khai mở cho chúng ta thấy được cách đây hơn 25 thế kỷ. Dù thời gian vẫn mãi trôi êm đền lặng lẽ suốt chiều dài lịch sử cho đến ngày nay, lời dạy ấy của Ngài càng vang vọng trầm hùng hơn bao giờ hết, vì con người vẫn còn khao khát ước mơ và luôn mong mỏi cho tất cả mọi người thực hiện chúng.

Đây mới chính là niềm vui lớn, một niềm vui hạnh phúc cao cả, chân thật. Vui thay Đức Phật đản sinh. Vui thay ánh sáng chính pháp của Ngài đến với nhân loại. Vui thay có những người luôn âm thầm thực hiện những lời dạy khai mở tiềm năng tuệ giác đó. Vui thay chúng ta biết nghĩ và biết sống trong tình thương không biên giới, vô giai cấp. Một niềm vui xuất phát từ trong tâm thế bình đẳng.
NAM MÔ LÂM TỲ NI VIÊN, VÔ ƯU THỌ HẠ, THỊ HIỆN ĐẢN SINH BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

PTVN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét